sua may han

dai ly may han robot

may nen khi truc vit

TOJI GROUP -TẬP ĐOÀN TOJI

Giỏ hàng của bạn

Giỏ của bạn chưa có hàng.

TOJI GROUP TẬP ĐOÀN TOJI Kinh Doanh Giới thiệu sản phẩm Sản phẩm Siemens Hiện thực hoá tiềm năng của FTTN

Hiện thực hoá tiềm năng của FTTN

In

Hiện thực hoá tiềm năng của FTTN


Việc gia tăng cạnh tranh từ các công ty vô tuyến và cáp, áp lực từ các mạch vòng riêng lẻ, và việc giảm doanh thu từ các sản phẩm thoại là những nhân tố đang làm bào mòn lợi nhuận của các nhà cung cấp dịch vụ truy cập đôi dây xoắn truyền thống. Lợi nhuận chỉ có thể đạt được bằng cách cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả vận hành, và tăng chất lượng dịch vụ để tăng giá trị thị trường của họ.

Chuyển đổi công nghệ truy nhập tạo ra cho họ các khả năng cung cấp cấp dịch vụ hấp dẫn, nhưng cần phải quan tâm đến việc lựa chọn phương thức tiếp cận tối ưu. Mục tiêu của việc chuyển đổi công nghệ truy nhập là áp dụng các công nghệ mới nhằm đồng thời nâng cao hiệu quả và mở ra tiềm năng cho các ứng dụng mới.


 

Việc gia tăng cạnh tranh từ các công ty vô tuyến và cáp, áp lực từ các mạch vòng riêng lẻ, và việc giảm doanh thu từ các sản phẩm thoại là những nhân tố đang làm bào mòn lợi nhuận của các nhà cung cấp dịch vụ truy cập đôi dây xoắn truyền thống. Lợi nhuận chỉ có thể đạt được bằng cách cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả vận hành, và tăng chất lượng dịch vụ để tăng giá trị thị trường của

họ. Chuyển đổi công nghệ truy nhập tạo ra cho họ các khả năng cung cấp cấp dịch vụ hấp dẫn, nhưng cần phải quan tâm đến việc lựa chọn phương thức tiếp cận tối ưu. Mục tiêu của việc chuyển đổi công nghệ truy nhập là áp dụng các công nghệ mới nhằm đồng thời nâng cao hiệu quả và mở ra tiềm năng cho các ứng dụng mới. Với việc triển khai các thiết bị mới sẽ đưa ra triển vọng hợp lý hoá các tiến trình vận hành và loại bỏ các dịch vụ lỗi thời hoặc không mang lại lợi nhuận. Số lượng các cấu hình khác nhau của các nhà cung cấp khác nhau, cũng như số các nhân viên kỹ thuật lành nghề để duy trì các cấu hình này sẽ giảm đáng kể. Các thiết bị được hiện đại hoá chắc chắn sẽ dễ dàng quản lý hơn, và với việc loại bỏ các cấu hình già cỗi sẽ nâng cao độ tin cậy của mạng

 

Lựa chọn chuyển đổi công nghệ truy nhập

Có một vài lựa chọn cho việc triển khai các cấu trúc mạng thế hệ mới. Hầu hết các nhà chuyên môn đều đồng ý rằng công nghệ truy nhập nổi trội của ngày nay là cáp quang theo các cách đến các hộ gia đình. Cáp quang mang đến sự hỗ trợ tốt nhất cho các ứng dụng băng thông rộng, và hứa hẹn thúc đẩy các tiến bộ công nghệ hiện nay. Các lựa chọn DSL (đường dây thuê bao số) gần đây như ADSL2+ và VDSL2, cũng đã hỗ trợ khả năng cung cấp băng thông ấn tượng trên đôi dây xoắn đồng hiện có, đặc biệt là khi được triển khai với việc sử dụng đôi dây bọc để tăng tốc độ đường dây. Sự phát triển kỹ thuật DSL đã mang lại băng thông cao hơn nhưng với độ dài mạch vòng ngắn hơn. Vị trí của các chuyển mạch diện thoại thường được lựa chọn để tối ưu đối với các trường hợp kinh doanh dịch vụ điện thoại truyền thống, và thường là rất xa đối với các người sử dụng đầu cuối để nâng cấp lên dịch vụ DSL một cách hiệu quả. Trong nhiều trường hợp, các nhà cung cấp truy nhập phải đầu tư vào các nút mới tại các cộng đồng dân cư, những nơi mà các đầu cuối DSL phải gần hơn với người sử dụng, và phải đạt được thông lượng lớn hơn đáng kể so với đặt tại chuyển mạch.

 

Với bất cứ sự lựa chọn nào, các nhà cung cấp truy nhập đều phải đối mặt với một lựa chọn để làm thế nào cải thiện mạng điện thoại cố định để chuẩn bị cho việc cung cấp các ứng dụng thế hệ mới, có 3 cách tiếp cận sẽ được sử dụng :

 

-   Thay thế cơ sở hạ tầng đôi dây xoắn bằng cáp quang tới các hộ gia đình FTTP

-   Thay thế các cấu trúc truy nhập dựa trên chuyển mạch cũ mà hỗ trợ các đôi dây xoắn bằng việc sử dụng các công nghệ DSL dựa trên nền chuyển mạch mới nhất

-   Tiếp cận lai cáp quang tới các node (FTTN), sẽ thúc đẩy các khía cạnh tích cực của 2 chiến lược đầu đồng thời tránh được những rào cản của chúng

 

Trường hợp FTTP

 

Khoảng cách có thể được kéo dài đáng kể bởi truy nhập cáp quang so với phạm vi truy nhập sử dụng đối dây xoắn và cáp đồng trục. Trong tầm với, FTTP cho phép sự tập trung các thiết bị và chuyển mạch lớn hơn, sự hợp nhất  giữa các thiết bị có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cắt giảm chi phí vận hành và bảo dưỡng lâu dài đối với cấu trúc được chuyển đổi. Những sự tiến bộ trong các thiết bị và các bộ xử lý quang, tốc độ tăng thông lượng lớn, và giá các sản phẩm ngày một giảm sẽ làm tăng khả năng triển khai của môi trường toàn quang trong tương lai.

 

Mặc dù FTTP có những thuận lợi đáng kể về mặt kỹ thuật và vận hành, các dự án với mục đích thay thế các công trình cáp xoắn đôi hiện hữu đôi khi phải đối mặt với những trở ngại. Có lẽ, ví dụ điển hình nhất là khi một cộng đồng dân cư chỉ bao gồm 1 vài hộ đứng riêng rẽ. Vì mỗi hộ là 1 toà nhà riêng rẽ, tỷ lệ độ dài đường cáp trên từng thuê bao ở mức độ kém thuyết phục nhất, và mỗi hộ dân sẽ yêu cầu 1 đường dây riêng rẽ. Nếu các tiện ích công cộng đều đã được chôn ngầm hoàn toàn, mà không được thiết kế cho việc kéo dài hoặc đặt mới cáp, yêu cầu về cống cáp mới sẽ làm gia tăng đáng kể chi phí kinh doanh.

 

Khi cần thiết phải triển khai các tuyến cáp mới và các điều kiện sở tại cho phép triển khai cống cáp dễ dàng, chi phí cho việc lắp đặt cáp thường vào khoảng vài trăm đô la cho 1 hộ gia đình, cùng với 1 khoản chi phí tương đương cho việc kết nối giám sát và cài đặt. Nếu yêu cầu cần thiết phải đào đá, chi phí có thể tăng lên gấp 5 hoặc 10 lần. Trái lại, việc triển khai cáp treo, thường cắt giảm chi phí từ 1 nửa cho tới 1 phần 3 giá trị đường dây, nhưng các chi phí cơ bản cho từng người sử dụng như kết nối, cấp nguồn và giám sát vẫn phải tính đến. Dĩ nhiên, không tính đến mật độ dân cư, những chi phí này là không thể tránh khỏi đối với việc triển khai ở những khu dân cư mới. Tất cả các vật dụng này, bao gồm cả thiết bị viễn thông vẫn phải được triển khai theo cách hiệu quả nhất có thể. Bởi vì chi phí tương đồng giữa cáp quang và các dây cáp xoắn đôi, và chi phí hiệu quả tương đồng giữa việc triển khai dịch vụ băng rộng trên nền cáp quang và truyền thống với dịch vụ thoại, trường hợp kinh doanh FTTP ở các khu dân cư mới là có lợi hơn nhiều.

 

Tuy nhiên, đối với rất nhiều các cộng đồng dân cư hiện tại, các dự án chuyển đổi truy nhập, sự phức tạp kết hợp với việc chuyển đổi FTTP vẫn là một rào cản, đặc biệt là với nhưng nơi có mật độ dân cư thấp. Vì thế rất nhiều các nhà cung cấp truy nhập đang tìm kiếm những phương án chuyển đổi truy nhập thay thế.

 

Trường hợp chuyển đổi chuyển mạch

 

Sự lựa chọn chuyển đổi liên quan đến việc thay thế chuyển mạch thế hệ thứ nhất trên nền DSLAM (Đa truy nhập đường dây thuê bao số) với các sản phẩm thuộc thế hệ tiếp theo. Các DSLAM thuộc thế hệ tiếp theo đã được trang bị với việc cung cấp đa dịch vụ trên nền IP, và chủ định để khai thác tối đa giá trị của các thiết bị chuyển mạch và đôi dây xoắn hiện có bằng việc tái sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có càng nhiều càng tốt.

 

Các công nghệ truy nhập băng rộng bằng đôi dây xoắn đều bị ảnh hưởng của yếu tố cân bằng giữa độ dài với thông lượng, độ dài đường dây thuê bao từ nguồn phát càng dài, thì thông lượng đạt được càng nhỏ. Trong trường hợp này, sự phát triển của các công nghệ DSL được triển khai trong các cấu trúc dựa trên nền chuyển mạch sẽ làm gia tăng nỗi ám ảnh về khả năng “chia cắt số”, có nghĩa là có sự chia cắt giữa các cộng đồng dân cư, những nơi có thể truy nhập tới hầu hết các dịch vụ băng thông rộng có thể, và những nơi không thể truy nhập. Đối với những nước có mật độ dân cư ở thành thị và nông thông rất khác nhau, việc cân bằng giữa truy nhập băng thông rộng và thông lượng đang trở thành vấn đề ngày càng được quan tâm

 

Ban đầu, cấu trúc trên nền chuyển mạch chủ yếu được thiết kế để cung cấp dịch vụ thoại. Các nhà cung cấp truy nhập với việc triển khai các cơ sở hạ tầng đường dây dài hơn phải thừa nhận rằng rất nhiều đường dây có thể quá dài để khai thác tương xứng lợi ích thông lượng của các công nghệ ADSL2+ (và VDSL) mới nhất. Những nhà khai thác này có thể sắn sàng thúc đẩy việc nâng cấp DSL cho các cấu trúc trên nền chuyển mạch để cung cấp nhiều hơn các dịch vụ, tuy nhiên nếu các dịch vụ có giá trị nhất chỉ có thể giới thiệu tới 1 phần nhỏ trong cộng đồng dân cư, thì thị trường cho dịch vụ băng rộng thế hệ mới có thể sẽ không được như ý. Thị trường tiềm năng bị giới hạn này có thể sẽ đánh mất sự khuyến khích để đầu tư cho các ứng dụng thế hệ mới, những ứng dụng là động lực cho quá trình chuyển đổi truy nhập trong giai đoạn khởi đầu. Đặc tính cơ bản của các công nghệ truy nhập cáp đồng và truy nhập vô tuyến là đường dây thuê bao càng dài thì thông lượng tương ứng càng nhỏ. Một chương trình chuyển đổi dựa trên nền chuyển mạch sẽ đối mặt với rủi ro thất bại trong việc cung cấp các lợi ích của băng rộng tới 1 bộ phận lớn các cộng đồng dân cư. Cuối cùng, điều này yêu cầu phải có 1 giải pháp vượt trên các cấu trúc trên nền chuyển mạch.

 

Trường hợp FTTN

 

Đối với nhiều nhà cung cấp truy nhập, khả năng thay thế đáng kể nhất là lựa chọn thứ 3. Cáp quang tới từng node, đây là sự lai ghép giữa những sự thay thế FTTP và chuyển đổi trên nền chuyển mạch.

 

Mục đích của phương thức FTTN là đặt lại các thiết bị DSL cách xa chuyển mạch, và đặt chúng gần hơn đối với người sử dụng. Điều này bao gồm việc triển khai các DSLAM thế hệ mới, kết nối quang tại các nơi phân tán trong các cộng đồng dân cư, và tái sử dụng phần cuối của đôi dây xoắn hiện có. AT&T đang thực hiện 1 trong những chuyển đổi trên nền FTTN hoài bão nhất trên thế giới, mục đích nâng cấp truy nhập băng rộng cho 18 triệu người sử dụng,  bắt đầu năm 2007.

 

 

 

Lợi thế đáng kể nhất của cấu trúc FTTN là nó tận dụng khả năng lớn nhất của các công nghệ DSL. Thông lượng cao nhất chỉ có thể đạt được bằng việc rút ngắn độ dài mạch vòng DSL. Do ngày nay, vị trí đặt chuyển mạch không thể dễ dàng thay đổi, các node được sử dụng để trải rộng các thiết bị trên nền chuyển mạch cũ ra toàn bộ các cộng đồng dân cư, điều này sẽ mang đến các độ dài mạch vòng ngắn hơn đối với đại đa số những người sử dụng. Thêm vào đó, việc kéo dài cáp quang xa hơn tới các cộng đồng dân cư có thể xem như bước đầu tiên và cần thiết để hướng tới việc triển khai cáp quang trên toàn tuyến đến với người sử dụng. Mặc dù vậy, các nhà cung cấp truy nhập có thể kết luận rằng thách thức về kinh tế của việc kinh doanh FTTN ngày nay là quá lớn, bước triển khai cáp quang trong vòng vài trăm mét của người sử dụng tương ứng với việc chuyển đổi cuối cùng tới FTTP. Cấu trúc FTTN có mục đích cải thiện cấu trúc cáp xoắn đôi hiện có. Việc tái sử dụng các cáp nhánh và cáp chôn trong cộng đồng dân cư sẽ giảm thiểu nhu cầu cho việc kéo dài và dẫn cáp rất tốn kém, và tránh được nhu cầu phải lắp đặt các thiết bị nguồn và các thiết bị đầu cuối mạng tại từng hộ. Trong khi đó, việc lắp đặt DSLAM tại trung tâm của các cộng đồng dân cư có thể làm giảm chiều dài cáp hàng kilômét, điều này làm tăng đáng kể thông lượng băng rộng tiềm năng đối với 1 bộ phận lớn các thuê bao, và quan trọng nhất, giảm số lượng các cáp lão hóa trong mạng của nhà cung cấp truy nhập, những cáp mà chi phí bảo dưỡng ngày càng gia tăng.

 

Độ dài lớn nhất mà cấu trúc FTTN có thể giảm độ dài mạch vòng phụ thuộc vào việc thiết kế cơ sở hạ tầng đôi dây xoắn đặt ngầm. Khả thi nhất là việc triển khai các tủ FTTN dọc theo các thiết bị kết nối chéo đôi dây xoắn, và những nơi gần với những người sử dụng cuối từ khu vực tới khu vực. Đối với những khu vực có mật độ dân cư cao nhất như các quận kinh doanh trung tâm, các khu chung cư, các node phục vụ vài trăm cho tới 1000 hoặc nhiều hơn nữa các thuê bao có thể được lắp đặt ở tầng hầm. Trong trường hợp này, độ dài mạch vòng tối đa thường là nhỏ hơn 100m, và tốc độ tin cậy VDSL2 ở mức 50-100Mbit/s là khả thi. Đối với việc triển khai FTTN ở môi trường mật độ dân cư ở mức trung bình, có thể thiết kế độ dài đường dây tối đa khoảng vài trăm mét, và tốc độ dịch vụ dự đoán khoảng 35-50Mbit/s. Đối với những khu vực có mật độ dân cư thấp, độ dài mạch vòng tối đa khoảng từ 700m-1,5km là có thể chấp nhận được, tốc độ tin cậy có thể đạt được trong khoảng 25Mbit/s xuống tới khoảng 12Mbit/s

 

Bởi vì cấu trúc FTTN luôn giảm độ dài mạch vòng khi được so sánh với cấu trúc trên nền chuyển mạch, các nhà cung cấp truy nhập có thể tự tin rằng FTTN sẽ duy trì hoặc nâng cao sự thực hiện của các dịch vụ băng rộng đến với người sử dụng trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, các thuê bao ở vị trí gần với chuyển mạch thường nhận được thông lượng DSL ở mức cao nhất, và sẽ ít có lợi nhất nếu chuyển sang FTTN.

 

Tiết kiệm thông qua việc bỏ thiết bị chuyển mạch

 

Khi chuyển sang cấu trúc trên nền các node, các thiết bị trên nền chuyển mạch cũ có thể không còn cần thiết. Đối với 1 số trường hợp triển khai FTTN, các node sẽ tiếp nhận trách nhiệm cung cấp truy nhập băng rộng, nhưng các dịch vụ thoại vẫn tiếp tục được hỗ trợ từ chuyển mạch. Trơng trường hợp chuyển đổi lý tưởng, các node hỗ trợ cả dịch vụ thoại và băng rộng, khi đó các cáp chính xoắn đôi cũ, các cơ sở chuyển mạch, và tất cả các thiết bị trong chuyển mạch là không cần thiết nữa đối với 1 khả năng tương tự. Các đường ống có thể được tái sử dụng  để dẫn cáp quang tới các node mới, và các tài sản chuyển mạch được loại bỏ và bán để góp phần giảm chi phí cho quá trình chuyển đổi. Việc tái sử dụng các đường ống, tránh nhu cầu phải đào các tuyến mới có thể là lý do thuyết phục đối với các nhà cung cấp truy nhập để bám vào các tuyến cáp hiện có.

 

 


Đối với kế hoạch nâng cấp FTTN, các nhà cung cấp truy nhập thường quan tâm đến sự cần thiết cho những thiết kế toàn trình tin cậy và khả dụng. Bằng việc triển khai các tuyến cáp đa dạng trên toàn cộng đồng dân cư giữa thiết bị chuyển mạch và các node, các tuyến cáp quang xen kẽ có thể được lắp đặt hướng tới các Biên dịch vụ. Cấu trúc mạch vòng đóng sẽ đồng thời cải thiện độ tin cậy và mở đường cho việc loại bỏ thiết bị chuyển mạch. Đến thời điểm khi mà dịch chuyển Biên  dịch vụ từ thiết bị chuyển mạch tới vị trí tập trung hơn trong mạng, mỗi tuyến cáp quang có thể được chuyển đổi thành thiết bị mới tại cùng 1 thời điểm, với ảnh hướng nhỏ nhất tới các dịch vụ của FTTN.

 

 

 

Tầm quan trọng của Biên dịch vụ

Biên dịch vụ, được kết hợp với sự tập trung các cáp quang và công nghệ chuyển đổi quang FTTP, đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất các loại hình truy nhập khác nhau. Điểm dịch vụ là nền tảng định tuyến sẽ quản lý các kết nối giữa người sử dụng và các thiết bị ứng dụng, và thường là được triển khai tại các điểm của mạng lõi của một số thiết bị chuyển mạch chính. Với những quốc gia thực hiện bán lẻ dịch vụ truy nhập, các biên dịch vụ này có thể đóng vai trò như là điểm ranh giới giữa các nhà cung cấp truy nhập và các nhà cung cấp ứng dụng thứ ba.

 

Với tất cả các thiết bị chuyển mạch chính được trang bị với việc tập trung cáp quang và các thiết bị đầu cuối quang FTTP, điểm dịch vụ chỉ có thể được tìm thấy trong 1 vài thiết bị chuyển mạch này, thường là tại các trung tâm thành thị lớn. Việc kết nối những thiết bị chuyển mạch này sẽ được thực hiện bằng việc sử dụng truyền dẫn dưới dạng VPLS và Ethernet đô thị.

 

Bất cứ hình thức chuyển đổi truy nhập nào không thể tận dụng hết tiềm năng của 1 chương trình chuyển đổi lớn hơn. Ví dụ, một nhà cung cấp truy nhập lựa chọn việc triển khai FTTP cho các cộng đồng dân cư mới, nhưng sẽ trì hoãn việc chuyển đổi đối với những phần khác của mạng, sẽ đối mặt với việc tốn chi phí phát triển ứng dụng chỉ sử dụng 1 lần để tương thích với các ứng dụng hiện có cho việc triển khai FTTP. Việc đưa ra 1 ứng dụng mới, ví dụ như thoại trên nền IP, có thể sẽ đòi hỏi việc điều chỉnh rời rạc đối với mối thiết bị truy nhập độc lập.

 

Điểm mấu chốt để có mô hình truy nhập thống nhất là phải đảm bảo rằng tất cả các loại hình của các dịch vụ được chuyển đổi sẽ được triển khai trên nền cấu trúc IP/MPLS. Thực hiện chuyển đổi các mạng truy nhập khác nhau thành một Biên dịch vụ chung khi đó cho phép mọi khách hàng, không quan tâm đến các truy nhập đơn lẻ, để kết nối tới các hệ thống tính cước, nhận thực và ứng dụng chung, và nhận được những trải nghiệm khách hàng giống nhau. Các ứng dụng khi đó có thể được phát triển độc lập đối với từng công nghệ truy nhập đơn lẻ, khi đó sẽ cắt giảm chi phí phát triển và giảm thời gian đưa dịch vụ ra thị trường

 

 

 

Kết luận

 

Các công nghệ thế hệ mới ngày nay đưa ra 3 sự lựa chọn cho 1 cấu trúc chuyển đổi, FTTP, DSL trên nền chuyển mạch, và FTTN. Mặc dầu vậy, hầu hết các nhà vận hành đều nhận thấy rằng việc đầu tư đói với FTTP có thể là 1 thách thức trong trường hợp các cộng đồng dân cư lâu đời. Các dự án chuyển đổi trên nền chuyển mạch có thể được thực hiện dễ dàng nhất, tuy nhiên nếu mạch vòng truy nhập quá dài. lợi ích sẽ bị giảm đáng kể. Cấu trúc FTTN giúp cho việc hiện thực hoá rất nhiều các lợi ích của truy nhập cáp quang mà không cần phải tốn chi phí cho việc triển khai cáp quang trên toàn tuyến đến các hộ gia đình và doanh nghiệp.

 

Bời vì hầu hết các nhà khai thác đang hoạt động đều cần phải theo đuổi cả 3 loại hình chuyển đổi cho các địa điểm khác nhau của các mạng truy nhập của họ, nhu cầu cho việc chuyển đổi của mạng và các biên dịch vụ tích hợp cúng là 1 vấn đề quan trọng cần quan tâm. Những nỗ lực trong việc triển khai các dịch vụ mới và cắt giảm thời gian đưa ra thị trường chỉ là 2 trong số những lợi ích của việc tích hợp những loại hình khác nhau của công nghệ truy nhập thế hệ mới

 

Chắc chắn rằng đối với những nhà cung cấp, FTTN đưa ra 1 mô hình có đủ khả năng cung cấp các ứng dụng được cải thiện 1 cách đáng kể, và có thể cắt giảm chi phí bảo dưỡng ngày 1 gia tăng đối với các cáp và các hệ thống truy nhập già cỗi. FTTN có thể được triển khai với chi phí chỉ bằng 1 phần nhỏ của FTTP.

 

Đối với những người sử dụng và nền kinh tế nói chung, FTTN hứa hẹn cung cấp các ứng dụng truy nhập đạt chuẩn quốc tế, điều này sẽ góp phần nâng cao tính hiệu quả và chất lượng cuộc sống, và vẫn duy trì tính cạnh tranh.

 

TCH

(Technology White Paper:

Alcatel – Lucent Telecommunications Review)

 
Google
Web TOJI

Tìm Kiếm

Hỗ Trợ Trực Tuyến

Sales Director
Telephone number of Sales Director 093.4455669
Technical Support
Telephone number of Technical Support 04-6.2828.777

sodochidan

download_area

Tham Khảo Ý Kiến

Bạn Biết Đến Toji Group bằng cách nào ?
 
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay322
mod_vvisit_counterHôm qua2893
mod_vvisit_counterTuần này3215
mod_vvisit_counterTuần trước18102
mod_vvisit_counterTháng này71636
mod_vvisit_counterTháng trước68377
mod_vvisit_counterTổng số6667425

10 mins ago: 45
IP: 54.157.61.68